Trời vừa hửng sáng, khi mặt trời còn chưa kịp vượt qua đỉnh núi, Nguyên Mạn Nương đã gõ cửa gọi Lư Hủ dậy. Muốn lên huyện thì phải ra bến trấn ngồi thuyền, đi sớm một chút thì may ra bán xong sớm để còn kịp về trong ngày.
Lư Hủ đem số tiền kiếm được lần trước ra chia chác: Tịch Nguyệt 1 văn, Lư Chu 1 văn. Hắn giữ lại 50 văn, trong đó 30 văn để trả tiền thuyền đi về, 20 văn dự phòng, còn lại bao nhiêu đưa hết cho Nguyên Mạn Nương giữ.
Ăn sáng xong, Nguyên Mạn Nương tiễn Lư Hủ ra cửa. Đi ngang qua nhà họ Nhan, hắn ghé vào cửa sổ nhìn một cái, quả nhiên Nhan Quân Tề đã dậy đọc sách từ đời nào. Lư Hủ gọi khẽ: "Quân Tề, ta đi đây! Ở nhà để mắt trông chừng đệ đệ muội muội giúp ta nhé!"
Nhan Quân Tề đẩy cửa sổ ra, Lư Hủ vẫy vẫy tay rồi xốc sọt sải bước hướng về phía bến tàu. Đón ánh nắng sớm, càng đi trời càng sáng rõ.
Từ trấn Ẩm Mã lên huyện Quan Dương mất mười lăm văn một lượt. Huyện ở phía thượng nguồn nên lúc đi là ngược dòng, sọt hàng nặng nên phải đóng thêm 5 văn tiền cước, lúc về xuôi dòng thì không tính thêm phí hàng hóa. Nguyên Mạn Nương trước đây chỉ đi huyện mua sắm Tết, lúc đi tay không nên không nhớ vụ phụ thu này. Lư Hủ bấm bụng giao ra 20 văn, lòng đau như cắt. Giao xong, hắn chỉ còn đúng 15 văn tiền tiêu vặt trong túi.
Trên thuyền toàn là người đi bán hàng. Lư Hủ thấy một lão trượng gùi sọt dâu tằm chín mọng, nhìn mà thèm nhỏ dãi. Hỏi giá thì tận 40 văn một cân, đắt ngang thịt lợn, hắn đành ngậm ngùi nhịn miệng. Phía dưới dâu tằm là những bó rau dại được xếp ngay ngắn, xanh mướt, nhìn non hơn hẳn rau mẹ kế hắn hái ở nhà. Để có một sọt thế này, chắc cũng phải mất cả ngày trời còng lưng trên núi. Ngoài ra còn có trứng gà, gà vịt, thỏ sống bị buộc chân nằm la liệt dưới khoang.
Thuyền tròng trành ngược dòng, mất hơn một canh giờ mới tới huyện. Vừa tới nơi, mùi cá tanh nồng đã xộc thẳng vào mũi. Bến tàu huyện Quan Dương là nơi tập nập nhất, vận chuyển hàng hóa, hành khách và buôn bán cá mú đều tập trung ở đây. Quan phủ phân chia khu vực khá rõ ràng: chỗ bán cá riêng, chỗ bốc dỡ hàng riêng, khách thuyền đậu ở giữa.
Lư Hủ bước xuống thuyền, ngó nghiêng một vòng. Giá cá ở đây cũng sàn sàn dưới trấn, nhưng cá lớn thì nhiều hơn hẳn, đa số là cá sống bơi tung tăng trong thùng gỗ. Cá mới chết thì rẻ hơn vài văn, nhà nghèo thường đứng đợi để mua loại này, còn nhà giàu thì chỉ chọn loại vảy bạc lấp lánh, nhảy tanh tách rồi bảo gia nhân đẩy xe chở thẳng về phủ.
Hắn theo dòng người xếp hàng vào thành. Thành vệ kiểm tra khá đơn giản, chủ yếu xem có mang hung khí hay không. Đến lượt Lư Hủ, tên lính canh soát người qua loa rồi hất hàm hỏi: "Vào thành làm gì?" rồi lật tờ vải bố phủ trên sọt lên.
Lư Hủ nhanh nhảu hạ sọt xuống, lấy hai phễu lá lau đựng ốc xào đưa cho hai tên thành vệ, cười xởi lởi: "Quân gia, đây là món quà vặt nhà làm đem vào thành bán thử, mời các ngài nếm thử lấy thảo."
Tên lính trẻ nhìn tên già, thấy đại ca gật đầu mới dám đón lấy, mút một con rồi khen: "Vị cũng được đấy, ngon!"
Tên già phán một câu: "Đây là nông sản, nộp một văn tiền thuế rồi vào đi."
Lư Hủ cảm ơn rối rít. May mà "biết điều", nếu bị tính là thương nhân thì phải nộp ít nhất 5 văn.
Vào trong thành, Lư Hủ nhận ra huyện Quan Dương chỉ có một con phố chính. Phía Đông là khu bình dân với tiệm tạp hóa, quán ăn, hàng xén san sát. Phía Tây xa hoa hơn với tửu lầu hai tầng, hiệu cầm đồ, tiệm son phấn và thư cục dành cho giới thượng lưu. Hắn chọn một góc ở phía Đông, nơi tiếp giáp với khu nhà giàu, tìm chỗ đứng giữa mấy hàng bán trái cây.
Hắn nghĩ bụng: Người mua nổi anh đào, đào hạnh hay dâu tằm thì chắc chắn sẽ không tiếc tiền mua ốc đồng của mình.
Quả nhiên, lát sau có một người đàn ông trung niên mặc áo lụa, dắt theo gã sai vặt đi ngang qua. Lư Hủ liền cất tiếng rao: "Ốc đồng bí truyền, thơm nồng cay ngọt, ăn với cơm hay nhắm rượu đều tuyệt đỉnh! Không ngon không lấy tiền đây!"
Người đàn ông nọ tò mò hỏi giá, Lư Hủ dâng lên một phễu: "Mười văn một phễu, mời ngài dùng thử trước khi mua."
Ông ta cầm một viên, mút một cái điêu luyện rồi vuốt râu khen: "Người ta thường bảo 'ốc Thanh minh béo tựa ngỗng trời', ốc của ngươi tuy muộn vụ nhưng gia vị thấm tháp, khá lắm!"
Lư Hủ cười thầm: Hay quá, có ngay câu quảng cáo miễn phí! Hắn nhanh miệng: "Ngài nói chí phải, ngài muốn lấy bao nhiêu ạ?"
"Lấy cho ta mười phễu."
Lư Hủ mừng rỡ, cẩn thận xếp ốc vào giỏ cho gã sai vặt. Nhìn khách đi khuất, hắn nhìn sang sọt trái cây bên cạnh mà thở dài. Nếu ba mẹ kiếp trước thấy hắn vì vài văn tiền mà phải khúm núm "dẻo mồm dẻo miệng" thế này, chắc họ cũng chẳng ngờ nổi đứa con trai mặt lạnh ngày nào giờ lại thành "gian thương" thực thụ.
Đến trưa, hắn bán được hơn ba mươi phần. Chợ sáng vãn khách, Lư Hủ không đứng yên một chỗ nữa mà đổi chiến thuật, đeo sọt ra trước ngực, bắt đầu rong ruổi khắp phố phường.
Hắn đúc rút ra một kinh nghiệm: Phụ nữ đi chợ tính toán chi li, thấy 10 văn một phễu ốc nhỏ xíu là tiếc rẻ, thà mua cá to về kho. Nhưng đàn ông thì khác, họ ham lạ, nếm thấy ngon là sẵn lòng móc túi.
Lư Hủ liếc nhìn sang phía Tây, nơi những tửu lầu và sòng bạc bắt đầu tấp nập khách khứa, đôi mắt hắn sáng lên: Mục tiêu mới đây rồi — Quán rượu và Sòng bạc!