“Nguyên Triều, đây là lễ vật cảm ơn dành cho Tạ đại nhân và Mộ công tử. Tuy hai người đều đã từ chối, nhưng Cố phủ ta vẫn phải tạ ơn cho phải đạo. Nếu không nhờ họ, thì năm nay e rằng khó thoát khỏi kiếp nạn.”
Cố Nguyên Triều nhận lấy hộp gỗ, sau đó mở ra, vừa thấy vật bên trong liền khẽ nhíu mày.
“Cha, thanh đoản đao Huyền Băng thì thôi cũng được, nhưng bức ‘Du Xuân Sơn Đồ’ lại là chân tích của đại sư Nguyên Thu, vốn là thứ cha yêu thích nhất. Hay là đổi thành cây nhân sâm trăm năm kia thì hơn.”
Cố thừa tướng xua tay: “Không cần. Tạ đại nhân vốn rất yêu thích sưu tầm danh họa, ngài ấy đã cứu Tuế Tuế một mạng, thì cha đây há lại tiếc một bức tranh hay sao.”
Cố Nguyên Triều nghe cha nói xong, liền hiểu rằng đối với cha thì sự an nguy của Tuế Tuế là điều quan trọng nhất. Vì thế, huynh ấy không khuyên thêm nữa mà chỉ lặng lẽ gật đầu.
Mấy hôm nay Cố Tuế An đều ở nhà nghỉ ngơi dưỡng sức, nàng ở nhà loay hoay với món rượu nho của mình.
Rượu nho được ủ từ nửa tháng trước nay đã lên men xong xuôi.
Nàng bảo Tứ Hỷ vớt bã nho lên để lọc lần thứ nhất, loại rượu chảy ra trong lần lọc đầu tiên này được gọi là “rượu tự chảy”.
Sau đó lại bảo Xuân Lan ép bã nho, loại rượu chảy ra từ lần này được gọi là “rượu ép”.
Thông thường, hàm lượng tannin và sắc tố trong “rượu ép” đều nhiều hơn so với “rượu tự chảy”.
(Tanin là hợp chất hóa học có vị đắng, là một phần của nhóm lớn các hợp chất được gọi là Polyphenol. Chúng có thể được tìm thấy tự nhiên ở nhiều nơi như vỏ cây, lá và trái cây, bao gồm cả nho. Khi nói đến rượu vang, tannin chủ yếu đến từ vỏ, hạt và thân nho. Sau khi nho đã được nghiền nát, chúng được lên men.)
Cố Tuế An trộn lẫn hai loại rượu này với nhau rồi cho vào vại để tiến hành lên men lần thứ hai.
Lần lên men thứ hai này cần khoảng ba đến bốn tuần, giờ chỉ cần chờ đợi là được.
Thời gian trôi qua thật nhanh, hôm nay chính là ngày mở tiệc chiêu đãi Tạ Vân Đình và Mộ Hành Tắc.
Gia Bảo Lâu tọa lạc trên con phố sầm uất nhất ở phía Nam kinh thành.
Trong gian phòng sang trọng chữ Lan ở lầu hai của Gia Bảo Lâu, không gian rộng rãi và tĩnh mịch, chính giữa kê một bộ bàn ghế tròn, trên tường treo bức tranh Lá trúc và Suối núi, còn lư hương đặt một bên cũng có hoa văn lá trúc.
Cố Tuế An và Cố Nguyên Triều ngồi ở vị trí cạnh cửa sổ của gian phòng, nơi đây có tầm nhìn cực tốt, có thể nhìn thấy con phố lớn náo nhiệt bên dưới.
“Đại ca, huynh có biết thân phận của vị Mộ công tử kia không?” Cố Tuế An có chút tò mò. Ở kinh đô chưa từng nghe nói đến người này, và trong nguyên tác cũng chưa từng xuất hiện một nam tử tên là Mộ Hành Tắc.
Nhưng lần trước gặp mặt đối phương, y phục và cách ăn mặc của của chàng ta rất cao quý, chắc hẳn cũng không phải xuất thân từ gia đình bình thường.
Cố Nguyên Triều lắc đầu: “Huynh cũng không rõ.” Tuy nhiên trong lòng huynh ấy đã có chút suy đoán. Huynh ấy nhớ rằng, họ khác của Khang Định Vương cũng mang họ Mộ.
Khang Định Vương là vị Vương gia duy nhất mang họ khác trong triều Đại Ung, vào thời Tiên Đế tại vị, quốc gia chưa từng yên ổn. Hai nước láng giềng là Dung Quốc và Yên Quốc liên minh với nhau, cùng nhau xâm lấn. Tiên Đế với tài năng xuất chúng đã quyết định thân chinh ra trận. Khi ấy, Khang Định Vương chỉ là một Tham tướng, nhưng dưới sự chỉ huy của Tiên Đế, liên tiếp lập công, cuối cùng đã thành công đẩy lui được Dung Quốc và Yên Quốc.
Sau đó, Tiên Đế dựa vào chiến công đã phong ông làm Vương, đồng thời còn bổ nhiệm Khang Định Vương làm Tổng đốc của năm tỉnh Giang Nam và Lưỡng Giang, có thể nói là hoàn toàn tin tưởng ông.
Tuổi tác của Mộ Hành Tắc này xem ra xấp xỉ với Thế tử của Khang Định Vương, chỉ là không biết người này có phải là Thế tử hay không.